XỬ LÝ NƯỚC THẢI TINH BỘT SẮN | Công Ty Môi Trường Kim Hoàng Hiệp

0979 739 738

XỬ LÝ NƯỚC THẢI TINH BỘT SẮN

Xử lý nước thải Kim Hoàng Hiệp là mội trong những công ty chuyên về xử lý môi trường, trong đó có lắp đặt và xây dựng hệ thống xử lý nước thải tinh bột sắn, sau đây chúng tôi xin chia sẽ với bạn đọc về hệ thống xử lý nước thải tinh bột sắn mà chúng tôi đã áp dụng, vào thực tiễn nếu bạn đọc có câu hỏi thắt mắt hãy liên hệ với chúng tôi theo số hotline: 0979 739 738

Tổng quan về ngành chế biến tinh bột sắn

Giới thiệu về những ứng dụng của Tinh Bột Sắn
Sắn áp dụng trong nhiều loại sản phẩm như thực phẩm, bánh kẹo, chất ngọt, các loại keo, ván ép, dệt may, giấy, sản phẩm phân hủy sinh học, bột ngọt, và các loại thuốc. Sắn lát và bột viên được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi và sản xuất rượu.
Ethanol
 Sắn lát là một nguồn thay thế nguyên liệu để sản xuất rượu cũng như y tế và công nghiệp rượu.
Thức ăn chăn nuôi
 Sắn củ có thể được chế biến thành các con chip và bột viên có thể được sử dụng trong làm thức ăn chăn nuôi cho gia súc, cừu, dê, lợn, gia cầm, và cá nuôi. Lá sắn là nguồn thức ăn cho gia súc.
Thực phẩm
 Các sản phẩm thực phẩm như thực phẩm đóng hộp, thực phẩm đông lạnh, trộn salad, nước sốt, và các loại thực phẩm trẻ sơ sinh.
Bánh kẹo
Sửa đổi các chất dẫn xuất tinh bột hoặc tinh bột sắn được sử dụng trong bánh kẹo cho các mục đích khác nhau như dày lên và kính
Bột ngọt
 Tinh bột sắn là một nguồn phổ biến để làm cho bột ngọt ở châu Á. Nó được sử dụng để nâng cao hương vị trong thực phẩm, ví dụ như, Ajinomoto.
Chất làm ngọt
 Glucose và fructose từ tinh bột sắn được sử dụng thay thế cho sucrose trong mứt và trái cây đóng hộp. Sắn dựa trên chất ngọt được ưa thích trong các công thức nước giải khát cho các đặc tính xử lý được cải thiện và đặc tính sản phẩm tăng cường.
sản xuất chế biến tinh bột sắn
Dược
 Các dạng tinh bột sắn được sử dụng như chất kết dính, chất độn, và các đại lý phân hủy
Keo
 Tinh bột sắn là một nguyên liệu rất quan trọng trong việc tạo ra keo. Tinh bột sắn dựa trên dextrates là chất kết dính tuyệt vời và được sử dụng trong nhiều ứng dụng bao gồm cả giấy tờ trước khi gắn keo, băng, nhãn, tem và phong bì.
Phân hủy sinh học sản phẩm
 Tinh bột sắn có thể được sử dụng như một loại polymer phân hủy sinh học để thay thế chất dẻo trong vật liệu đóng gói.
Ván ép
 Keo dán được làm từ tinh bột sắn là một vật liệu quan trọng trong sản xuất ván ép. Chất lượng của gỗ dán phụ thuộc rất nhiều vào chất keo được sử dụng.
Giấy
 Đổi tinh bột sắn được sử dụng trong giai đoạn ẩm ướt giấy làm thành từng cục bột giấy, cải thiện tốc độ chạy và làm giảm sự mất bột giấy. Tinh bột sắn bản địa và sửa đổi cũng được sử dụng trong việc mã hóa và kích thước của giấy, cải thiện sức mạnh, codings ràng buộc với tờ giấy, và kiểm soát tiêu thụ mực in để cải thiện chất lượng in.
Dệt may
 Tinh bột sắn được sử dụng trong ba giai đoạn của dệt may chế biến: kích thước sợi cứng và bảo vệ nó trong quá trình dệt, để nâng cao tính thống nhất màu sắc trong quá trình in ấn, và để làm cho vải bền và tỏa sáng .

Thực trạng ngành chế biến tinh bột sắn

Hiện nay, cả nước có trên 60 nhà máy, cơ sở chế biến tinh bột sắn quy mô lớn và trên 4.000 cơ sở chế biến quy mô vừa và nhỏ. Hiện tại, tổng công suất của các nhà máy chế biến tinh bột sắn quy mô công nghiệp đã và đang xây dựng chỉ đáp ứng từ 40–45% sản lượng sắn cả nước, số sản phẩm sắn tươi còn lại được sử dụng cho chăn nuôi và chế biến thủ công tại các nông hộ. Rác thải và nước thải là các loại chất thải chính phát sinh từ quá trình chế biến tinh bột sắn.

Nguồn gốc phát sinh nước thải từ hoạt động chế biến tinh bột sắn

Cùng với hàm lượng rất lớn CTR được thải bỏ, hoạt động chế biến tinh bột sắn còn làm phát sinh nhiều nước thải. Trung bình một cơ sở phải sử dụng 40 m3 nước để chế biến 1 tấn sắn tươi, cho các công đoạn; rửa thiết bị, máy móc, làm sạch củ, ngâm và lọc bột. Nước thải từ các công đoạn tinh chế tinh bột sắn có hàm lượng chất rắn lơ lửng cao từ 1.150–2.000 mg/l; hàm lượng BOD5 từ 500–1000 mg/l; COD tương đương 1.500–2.000 mg/l vượt quy chuẩn cho phép từ 15–25 lần.
Ảnh hưởng của nước thải từ hoạt động chế biến tinh bột sắn đến môi trường

Tính chất của nước thải từ hoạt động chế biến tinh bột sắn

Nước thải từ họat động chế biến tinh bột sắn có các thành phần hữu cơ như tinh bột, protein, xenluloza, pectin, đường có trong nguyên liệu củ sắn tươi là những nguyên nhân chính gây mất vệ sinh cao cho các dòng nước của nhà máy sản xuất tinh bột sắn. Nước thải sinh ra từ dây chuyền sản xuất tinh bột sắn có các thông số đặc trưng: pH thấp, hàm lượng chất hữu cơ và vô cơ cao, thể hiện qua hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS), TSS rất cao, các chất dinh dưỡng chứa N, P, các chỉ số về nhu cầu oxy sinh học (BOD5), nhu cầu oxy hoá học (COD), …với nồng độ rất cao và trong thành phần của vỏ sắn và lõi củ sắn có chứa Cyanua (CN-) một trong những chất độc hại có khả năng gây ung thư
tính chất nước thải ngành tinh bột sắn
Nước thải tinh bột sắn nếu thải ra sông, suối sẽ làm cho nước có màu đen, nổi bọt trắng và bốc mùi hôi thối, làm ô nhiễm môi trường không khí. Nếu như để nước thải chảy tràn vào ao, hồ nuôi cá sẽ làm chết cá hàng loạt và gây ô nhiễm môi trường

Đề xuất quy trình công nghệ xử ký nước thải tinh bột sắn

sơ đồ công nghệ xử lý nước thải tinh bột sắn

Thuyết minh quy trình công nghệ xử lý nước thải tinh bột sắn

BỂ LẮNG CÁT:
Có nhiệm vụ loại bỏ cát, mảng kim loại,… trong nguyên liệu, trong nước thải vệ sinh nhà xưởng. Nước thải từ các khu vực sản xuất theo mạng lưới thoát nước riêng chảy vào bể lắng cát của trạm xử lý. Tại đây, để bảo vệ thiết bị và hệ thống đường ống công nghệ phía sau, song chắn rác thô được lắp đặt trước bể lắng cát để loại bỏ các chất thải có kích khối lượng lớn ra khỏi nước thải. Bể lắng cát giữ lại phần lớn các hạt cát có kích thước lớn hơn 0,2mm bao gồm những hạt cát rời và một phần cát dính trong lớp vỏ gỗ, tránh ảnh hưởng đến máy bơm và thiết bị ở các công trình sau. Trong nước thải chế biến tinh bột sắn thường có hàm lượng cát đáng kể, vì vậy trong công nghệ xử lý nước thải cần thiết phải có bể lắng cát. Nước thải sau khi qua bể lắng cát sẽ tự chảy vào hầm tiếp nhận.
Nước thải trước khi đến hầm biogas sẽ qua lưới chắn rác tinh. Lưới chắn rác có tác dụng loại bỏ các sơ sợi sắn, lớp váng bọt nổi và rác thải có kích thước nhỏ hơn 10mm.
HẦM BIOGAS:
Nước thải sau khi được dẫn qua lưới chắn rác tinh sẽ được dẫn vào hầm biogas. Hầm biogas là nơi xử lý hiếu khí giúp làm giảm lượng lớn nồng độ COD, BOD5 và giải phóng năng lượng phục vụ cho hoạt động khác
BỂ ĐIỀU HÒA:
Sự dao động nồng độ và lưu lượng nước thải sẽ ảnh hưởng đến chế độ công tác của mạng lưới và các công trình xử lý, đặc biệt quan trọng với các công trình hóa lý, sinh học với việc làm ổn dịnh nồng độ nước thải sẽ giúp giảm nhẹ kích thước công trình xử lý hóa lý, đơn giản hóa công nghệ xử lý và tăng hiệu quả xử lý nước thải ở các công trình xử lý. Tại bể điều hoà nhờ quá trình khuấy trộn và cấp khí giúp ổn định lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm như: BOD5, COD, pH, CN-…tại đây nước thải được bơm sang bể phản ứng.
BỂ TRUNG HÒA:
Nước thải ở công nghệ chế biến tinh bột sắn đều có pH thấp, ở các công đoạn do quá trình lên men axit tinh bột. Do đó, trước khi tiến hành xử lý sinh học (yêu cầu pH từ 6.5–8.5) hay quá trình hóa lý thường yêu cầu pH trung tính cần tiến hành trung hòa để tạo điều kiện thích hợp cho vi sinh phát triển tốt.
BỂ PHẢN ỨNG:
Hóa chất keo tụ được châm vào bể với liều lượng nhất định và được kiểm soát chặt chẽ bằng bơm định lượng hóa chất. Dưới tác dụng của hệ thống cánh khuấy với tốc độ lớn được lắp đặt trong bể, hóa chất keo tụ được hòa trộn nhanh và đều vào trong nước thải, hình thành các bông cặn nhỏ li ti khắp diện tích bể.
BỂ KEO TỤ TẠO BÔNG:
Hỗn hợp nước thải này tự chảy qua bể keo tụ tạo bông. Dưới tác dụng của chất trợ keo tụ và hệ thống motor cánh khuấy với tốc độ chậm, các bông cặn li ti sẽ chuyển động, va chạm, dính kết và hình thành nên những bông cặn có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông cặn ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng ở bể lắng. Hỗn hợp nước thải và bông cặn ở bể keo tụ sẽ tạo thành bông tự chảy sang bể lắng.
BỂ LẮNG 1:
Bể lắng có chức năng loại bỏ các chất lắng được mà các chất này có thể gây ra hiện tượng bùn lắng trong nguồn tiếp nhận, tách dầu mỡ và các chất nổi khác, giảm tải trọng hữu cơ cho các công trình xử lý phía sau. Phần bùn trong nước thải được giữ lại ở đáy bể lắng. Lượng bùn này sẽ được bơm qua bể chứa bùn để xử lý.
BỂ UASB:
Phần nước sau khi tách bùn được bơm bể phản ứng kỵ khí UASB, bên cạnh việc phân huỷ phần lớn các chất hữu cơ thì CN- cũng được phân huỷ đáng kể tại đây, nhằm giảm đến mức thấp nhất nồng độ CN- trước khi dẫn vào bể lọc sinh học. Bể UASB thường được áp dụng xử lý nước thải có hàm lượng chất hữu cơ cao như nước thải ngành tinh bột sắn. Nước thải được nạp từ phía đáy bể, đi qua lớp bùn hạt, quá trình xử lý nước thải xảy ra khi các chất hữu cơ tiếp xúc với bùn hạt. Đặc tính quan trọng nhất của bùn từ bể UASB là vận tốc lắng của bùn khá cao, nhờ đó có thể vận hành thiết bị kỵ khí với vận tốc ngược dòng từ dưới lên cao. Khi vận hành ở giai đoạn đầu tải trọng chất hữu cơ không được quá cao vì vi sinh vật acid hóa sẽ tạo acid béo dễ bay hơi với vận tốc nhanh hơn rất nhiều lần so với tốc của các acid này thành acetate dưới tác dụng của vi khuẩn acetate làm giảm pH môi trường, ức chế vi khuẩn methane hóa. Tải trọng hữu cơ có thể tăng dần khi vi khuẩn thích nghi. Vì vậy, với hệ thống UASB tải trọng chất hữu cơ có thể đạt cao trong giai đoạn hoạt động ổn định. Bùn từ bể lắng 1 và bùn dư từ bể UASB sẽ được dẫn đến sân phơi bùn, nhằm giảm độ ẩm và khối lượng bùn để dễ dàng vận chuyển ra bãi thải.
BỂ LỌC SINH HỌC:
Màng sinh học hiếu khí là một hệ VSV tuỳ tiện, ở ngoài cùng của màng là lớp vi khuẩn hiếu khí, lớp sâu bên trong màng là các vi khuẩn kỵ khí. Phần cuối cùng của màng là các động vật nguyên sinh và một số các vi khuẩn khác. Vi sinh trong màng sinh học sẽ oxy hoá các chất hữu cơ, sử dụng chúng làm nguồn dinh dưỡng và năng lượng. Chất hữu cơ được tách ra khỏi nước, còn khối lượng của màng sinh học tăng lên. Màng vi sinh chết sẽ được cuốn trôi theo nước ra khỏi bể lọc sinh học. Để duy trì điều kiện hiếu khí hay kỵ khí trong bể phụ thuộc vào lượng oxy cấp vào. Nhưng thực tế trong bể luôn tồn tại 3 quá trình hiếu, thiếu và kỵ khí. Do đó hiệu quả khử nitơ và photpho của bể lọc tương đối cao.
Tiếp đó, nước thải sẽ được dẫn đến cụm 5 hồ sinh học, phần CN-. nitơ, photpho, BOD5, COD, SS còn lại sẽ được khử tại các hồ sinh học. Nước thải sau khi qua hệ thống xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 24:2009, loại B sẽ thải ra nguồn tiếp nhận.
Ưu nhược điểm của công nghệ xử lý
Ưu điểm
Công nghệ đề xuất phù hợp với đặc điểm, tính chất của nguồn nước thải;
Nồng độ các chất ô nhiễm sau quy trình xử lý đạt quy chuẩn hiện hành;
Diện tích đất sử dụng tối thiểu.
Công trình thiết kế dạng modul, dễ mở rộng, nâng công suất xử lý.
Nhược điểm
Chi phí đầu tư ban đầu cao
Nhân viên vận hành cần được đào tạo về chuyên môn
Chất lượng nước thải đầu ra xử lý có thể bị ảnh hưởng nếu một trong những công trình xử lý trong trạm không được vận hành đúng các yêu cầu kỹ thuật;
Bùn sau quá trình xử lý cần được thu gom và xử lý định kỳ.
Nếu bạn đọc có câu hỏi thắt mắt hãy liên hệ với chúng tôi theo số hotline: 0979 739 738

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *